Mạc Thiên Tích và Chiêu anh các

Category: Họ Mạc và Hà Tiên 141 0

Kim Dự Lan Đào

Một dẫy non xanh nước bích liền.

Giăng ngang mạch đẹp sông tiên.

Đông Nam sóng biển bằng trang cả.

Trên dưới trăng trời sáng rực lên.

Rồng cá vẫy vùng trong cõi nước.

Đá cây xan xát khắp ven miền.

Nghìn thu tiếng gió quanh chân sóng.

Đậm nhạt trăng treo nét lạ nhìn.

Đây là cảnh thứ nhất trong mười thắng cảnh của xứ Hà Tiên, và cũng là đề tài mở đầu mà Mạc Thiên Tứ đã chọn cho thi phái Chiêu Anh Các ngâm vịnh. Tác giả lấy ngay cảnh này làm cảnh mở đầu, bởi vị trí Kim Dữ là địa điểm trọng yếu ở ngay giữa cảng Hà Tiên, ngó ra vịnh Xiêm La. Hình thể nó ví như cửa thành thiên nhiên, chống đỡ ngoại xâm và che chỡ nội địa. Tác giả đã khéo mượn vị trí núi để so sánh với nhiệm vụ, với địa vị của mình là một vị tướng lãnh trọng yếu trấn giữ biên cương.

 

Bình San Điệp Thúy

Cây xanh ngăn ngắt vút cao cao.

Ngọn dựng bình dăng đẹp mĩ miều.

Mây sáng vây quanh hình nu1o rõ.

Đất trời bền vững nền linh tý,

Mây khói vời xa nỗi ước ao.

Danh thắng Hà Tiên đâu dám bảo.

Cây ngàn mơn mởn biết xanh gieo.

Bình Sơn điệp thúy là cảnh thứ hai trong Hà Tiên thập cảnh. Đầu bài này sóng đôi với đầu bài thứ nhất là Kim Dữ lan đào. Cảnh Kim Dữ là địa điểm chiến lược, thì cảnh Bình San là chốn an nhàn, thanh tú.

 

Tiêu Tự Thần Chung

Lác đác trời tàn nhạt ánh sao,

Chuông chùa xa vắng tiếng đưa vào.

Mơ màng cõi tục người tiên lẫn

Đồng vọng bờ cây bến nước xao.

Hạc để tiếng vương cành gió thoảng.

Quạ đưa lời gởi ngọn trăng cao.

Gối nghiêng giấc tỉnh đêm mê mộng

Sớm giục canh gà tin khát khao.

Tiêu Tự thần chung, tác giả đã khéo mượn thêm ý cảnh bên ngoài chùa chiền để làm nổi bật tiếng chuông chùa.

 

Giang Thành Dạ Cổ

Gió cuốn trời cao mây lạnh tung,

Sông dài vây tỏa khí anh hùng.

Lâu thuyền dãi bóng trăng sương lạnh,

Trống mõ cầm canh sóng nước trong.

Kim giáp đã nhờ đêm chặt chẽ

Cẩm bào cho được chốn thung dung.

Lược thao đem đáp tình minh chúa.

Nước việt biên thùy vững núi sông.

Bài Giang Thành dạ cổ này sóng đôi với bài Tiêu Tự thần chung, thi sĩ Đông Hồ giải thích thâm ý của tác giả như sau: Ngoài việc để “tiếng chuông” chùa Tiêu đối lại với “tiếng trống” ở đồn Giang Thành; Mạc Thiên Tứ còn muốn nói lên rằng: một cảnh biểu thị cho đạo đức là chùa chiền, một cảnh biểu thị cho ý thức quân sự là đồn lũy.

Toàn thể hai bài đều tả tiếng trống canh ban đêm ở một đồn thú bên sông. Nhờ tiếng trống này mà đối phương không dám xâm lấn cõi bờ, giúp cho nước nhà được yên ổn, an vui.
Thạch Đông Thôn Vân

Xanh xanh ngọn đá chạm thiên hà

Động bích long lanh ngọc chói lòa.

Chẳng hẹn khói mây thường lẩn quất.

Không ngăn cây cỏ mặc la đà.

Phong sương càng dãi màu tươi đẹp

Nhật nguyệt chi ngừng bóng lại qua

Chót vót tinh hoa đây đã hẳn.

Theo chiều gió lộng vút cao xa.

Đây là cảnh thứ năm trong Hà Tiên thập cảnh. Bốn đề tài trước gần thực tế, đến đề tài này thì khác hẳn. Thi sĩ Đông Hồ có lời bình:

Thơ này mượn cảnh nhân gian mà tả cảnh thần tiên. Nhân Thạch Động là một cảnh động đá thiên nhiên, khói mây quanh quất, có thạch nhữ, nước ngọt suối trong khiến liên tưởng đến Đào Nguyên, Thiên Thai, mà so sánh với Động Đình, Nhạc Dương, toàn là cảnh thần tiên diễm ảo. Vì thế nên tứ thơ phiếu diễu mông lung, nửa hư, nửa thực; nửa chân nửa mộng; lời thơ cũng vì thế mà hóa ra huyền diệu mơ màng; khiến người đọc không nhận thấy đường nét sáng sủa phân minh, mà như lạc mình vào cõi mây phong khói tỏa.

Châu Nham Lạc Lộ

Bóng rợp mây dâm phủ núi non.

Bay la bay lả trắng hoàng hôn.

Góc trời thế trận giăng cây cỏ.

Đóa ngọc hoa rơi khắp bãi cồn.

Trăng dãi non treo làn thác đổ.

Chiều tà cát lẫn ánh mây tuôn.

Trên đường bay nhảy bao xuôi ngược

Nghĩ cảnh dừng chân bến nước còn.

Đây là cảnh thứ sáu trong Hà Tiên thập cảnh, đối lại với cảnh thứ năm là Thạch Động thôn vân (Động đá nuốt mây). Cũng là cảnh động đá, nhưng ở Thạch Động thôn vân càng mơ màng diễm ảo, thì ở Châu Nham lạc lộ càng sáng sủa, phân minh. Cảnh Thạch Động, chú trọng ở điểm “thôn vân”, thì cảnh Châu Nham, chú trọng ở điểm “lạc lộ”. Nhất là trong nền tối hoàng hôn, sắc trắng của cánh chim càng thêm nổi rõ, khiến sắc minh bạch lại càng thêm minh bạch. Ở bài thơ này, tác giả mượn cảnh đàn chim về núi mà ví với cảnh ngộ, với cảm tình của con người đối với gia hương tổ quốc.

Đông Hồ Ấn Nguyệt

Khói lạnh mây tan cõi diểu mang.

Một vùng phong cảnh giữa hồng quang.

Trời xa mặt sóng in đôi bóng.

Biển bạc vành gương dọi bốn phương.

Rỗng đã sánh cùng trời bát ngát,

Sâu còn so với biển mênh mang.

Cá rồng tỉnh giấc chi tan vỡ,

Một tấm lòng băng vẫn chói chang.

Tả một hồ nước trong vắt đương tiết mùa thu quang đãng. Tại sao lại chọn vào tiết mùa thu? Bởi núi thì đẹp vào mùa xuân mà nước thì đẹp vào mùa thu. Một vầng trăng vành vạnh nổi giữa thanh không in bóng xuống mặt hồ trong leo lẻo.

Nam Phố Trừng Ba

Một vùng xanh ngát một doành khơi.

Bãi nối màu thu tiếp sắc trời.

Mưa khéo mây đem về kết tụ

Gió nào cho sóng động tăm hơi.

Biển hâng hẩng sáng triều tuôn dẫy,

Buồm nhẹ nhàng đưa khỏi thoảng trôi.

Vực thẳm cá rồng còn ẩn náo.

Êm đềm nước ngậm bóng trăng soi.

Cảnh trăng Đông Hồ, đẹp thì có đẹp nhưng không lạ. Cảnh Nam Phố mà trừng ba mới là thật đặc biệt. Bởi vì, trong thời kỳ gió mùa Tây Nam, các bãi biển ở Hà Tiên đều phải hứng chịu gió, nên lúc nào biển cũng có cảnh sóng bạc trùng trùng…Chính Mạc Thiên Tứ đã nhận thấy điểm đặc biệt đó, mới chọn đầu đề cho thơ.

Cả hai bài đều tả cảnh biển Nam Phố phẳng lặng êm đềm, khách đến chơi không e ngại gì sóng gió. Thơ này có ý quảng cáo tốt cho xứ Hà Tiên, rằng người dân đến ở sẽ không gặp khó khăn trở ngại. Mọi người sẽ luôn được mặc tình thỏa thích, vì đó là nơi yên lặng thanh bình..
Lộc Trĩ Thôn Cư

Lều tre giấc tỉnh gió lay mình,

Tiếng quạ ồn chi trước mái tranh.

Ráng xế treo ngang khung cửa tím

Cây vườn che lợp luống rau xanh

Tánh rần mộc mạc hươu nai dại

Lòng thích thơm tho nếp tẻ thanh.

Ai đó hỏi thăm nơi chốn ở.

Lưng trâu tiếng sáo lặng làm thinh.

Bài thơ tả cảnh thôn xóm Mũi Nai

Bởi tả cảnh thanh thú ở chốn thôn quê, tả nếp sống của người nông dân, có đủ cả: mái cỏ, tiếng chim, ráng chiều, mùi lúa nếp, con hươu con vượn…Nghĩa là, có đầy đủ điều kiện cho một cuộc sống vô sự hồn nhiên như người thái cổ. Nếu quan niệm rằng người ta sống là để tìm cảnh thái bình, hưởng lấy hạnh phúc; thì đời sống ở thôn quê quả là chỗ đáng để tìm đến..

Lư Khê ngư bạc

Bóng chiều nắng ngả dòng sông thẳm,

Rạch Vược đèn ngư khói chập chùng

Bến cũ nhấp nhô thuyền đỗ sóng

Vờ xa san sát lưới phơi trăng

Cánh tơi sáo thấm sương pha buốt,

Mái trúc chèo khuya nước sáng trưng.

Lồng lộng vời trông cười thử hỏi

Cá rồng vùng vẫy chốn nầy chăng.

Tác giả đã khéo chọn lư (cá vược) đối với lộc (nai), khéo mượn cảnh thuyền chài về đỗ bến đối lại với nghề canh tác ở chốn nông thôn (Lộc trĩ thôn cư); để chứng minh rằng vùng đất mới Hà Tiên, chẳng những đồng ruộng phì nhiêu mà sông biển cũng rất phong phú. Tất cả làm cho người dân có được một cuộc sống ấm no, an lạc và thái bình.

Related Articles

Add Comment